Thursday, February 2, 2017


TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO VÀ SỰ PHỤC HỒI
Tác Giả : TS. Jill Bolte Taylor
Dịch Giả : TS. Minh Tâm
CHƯƠNG 13
NGƯỜI BỆNH CẦN BIẾT


Phục hồi bình thường trở lại là điều mà tôi nghĩ đi nghĩ lại nhiều lần hằng ngày. Có đáng công sức bỏ ra để phục hồi và sống lại cuộc đời trước kia không? Với nhận thức mới về đời sống trong những ngày xuất huyết não, tôi có sẵn sàng từ bỏ niềm an vui vô tận để trở lại cuộc sống đầy đau khổ và phiền muộn hay không?
Trong tình trạng não bộ trái còn yếu thế và bị não bộ phải chi phối, tôi vẫn còn phân biệt thế nào là hạnh phúc và thế nào là khổ đau. Sống trong nhận thức của não bộ phải, con người sẽ cảm thấy hạnh phúc và an lạc. Sống theo nhận thức của não bộ trái, con người phải hứng chịu đau khổ và ưu phiền. Mọi sự chỉ là do ý thức mà ra! Mà muốn được hồi phục, điều quan trọng là tôi cần có những người săn sóc có khả năng bên cạnh trợ giúp.
Nhưng tại sao tôi phải phục hồi để trở lại đời sống hỗn tạp và đầy đau khổ, trong khi tôi đã có thể sống an bình và thanh tịnh với niềm vui mầu nhiệm của đất trời mà tôi đã tìm được, khi vắng mặt sự phê phán, tranh chấp, ngã mạn của não bộ trái? Hay đặt câu hỏi cho rõ hơn: Tại sao tôi bị xuất huyết não, làm chấm dứt nhận thức sai lầm trong mấy mươi năm và tại sao tôi có thể khám phá ra một thế giới an bình và thanh tịnh với nhận thức mới của não bộ phải? Tôi bỗng trực nhận rằng Thượng đế đã ban cho tôi cơ hội trải nghiệm thế giới an lành từ trong nội tâm sâu thẳm - mà ai cũng có thể đạt được bất cứ lúc nào. Và tôi tin rằng bất cứ ai cũng có thể chứng nghiệm hiện trạng thế giới cực lạc này từ nhận thức của mình qua não bộ phải. Với hiểu biết đó, tôi rất hào hứng mà nghĩ rằng, sự phục hồi của tôi sẽ giúp mọi người nhìn lại mình cho đúng đắn để đón nhận một quan niệm sống tốt đẹp hơn - không những cho người bị tai biến não hồi phục, mà cho bất kỳ ai còn có bộ óc! Lúc ấy, thế giới sẽ là nơi thanh bình, hạnh phúc cho mọi người và mọi loài.
Thành ra qua cơn xuất huyết não của tôi, quyển sách này chỉ để khẳng định rằng: Sống trong an lạc và Hạnh phúc không phải là điều xa vời, không tưởng như các nhà tôn giáo cố gắng truyền rao. Đó là một thực tế có từ trong não của bạn. Muốn có được, hãy làm cho não trái im đi ảnh hưởng của nó và hãy bước qua não phải. Khi mỗi người đều tìm được bình an và hạnh phúc cho chính mình thì thế giới này mới có thể là nơi thanh bình và trật tự cho mọi người.
Còn việc phục hồi, bạn phải có mục tiêu rõ rệt, có ý chí và lòng tự tin và phải có người giúp bạn một cách tận tâm và tận tình. Việc phục hồi có thể kéo dài vài tháng đến vài năm; 10 năm, 20 năm hay suốt đời, tùy theo sự nặng nhẹ của tai biến. Tôi đã từng nghe nhiều bác sĩ bảo: “Nếu bạn không thể phục hồi trong 6 tháng sau tai biến, thì không thể phục hồi”. Điều đó hoàn toàn sai. Chính tôi, một nhà khoa học não bộ, biết đúng cách để phục hồi cho chính mình, cũng đã phải mất 8 năm trời! Bởi vì tế bào não không bao giờ chết, trừ phi chúng bị bỏ quên. Chúng thực sự chỉ bị tê liệt. Khả năng thay đổi để thích ứng của tế bào bộ óc con người thật là kỳ diệu. Tế bào thần kinh của tôi đã tự chữa lành và vận hành trở lại theo sự thực tập kiên trì ngày qua ngày. Và nhất là số lượng giờ ngủ phải thích đáng theo nhu cầu bộ óc - đừng quá ít. Chính những giấc ngủ đã giúp bộ óc hồi phục. Các nhà khoa học ngày nay đều nhận biết rõ ràng rằng não bộ có khả năng thay đổi tuyệt vời trong sự nối kết các tế bào thần kinh qua những kích thích từ bên ngoài. Tính chất này đã giúp cho não bộ tái lập những chức năng đã mất.
Kiên nhẫn, quyết tâm, có người chăm nuôi tận tình, ngủ nhiều giờ cho đủ sức là những điều kiện tối cần để phục hồi. Người bệnh cũng cần không gian yên tĩnh để bảo trì năng lượng. Sự ồn ào của chỗ ở, của người tò mò đi thăm viếng vừa làm cản trở người bệnh phải tập luyện, vừa phí phạm năng lượng vốn ít ỏi của người bệnh khi phải tiếp khách. Năng lượng (sức khỏe) của người bệnh rất giới hạn, khiến cho rất mau mệt. Sự ồn ào chung quanh làm mất năng lượng nhiều nhất. Sự tập luyện cũng tốn nhiều năng lượng, nên phải tập từ dễ tới khó. Như vậy bệnh nhân mới phấn khởi vì thấy mình thành công. Thêm nữa, để cho sự phục hồi tiến triển và đạt kết quả, chỉ nên chú ý đến những điều bệnh nhân hoàn thành, đừng chú tâm đến những thất bại. Bộ óc biết điều chỉnh nên bệnh nhân sẽ làm được về sau. Bệnh nhân, thật sự là một đứa bé trong thân xác người trưởng thành, nên rất cần được thương yêu, khen ngợi, quan tâm và khích lệ của mọi người trong gia đinh. Bất cứ học hỏi điều gì, phải xem người bệnh như chưa biết gì hết, và phải chỉ dẫn thật cặn kẻ, tỉ mỉ. Phải chia những công việc “lớn”, phức tạp ra từng phần “nhỏ”, đơn giản. Như vậy mới thấy được sự thành công dễ dàng và làm cho người bệnh phấn khởi - đó là điều rất cần thiết.
Đừng nên bỏn xẻn về lời khen ngợi sự thành công, tiến bộ trong việc học hỏi của người bệnh và phải chúc mừng từng mỗi giai đoạn đã hoàn thành. Người lãnh phần chăm sóc trong giai đoạn phục hồi này phải thật có lòng yêu thương và kiên nhẫn. Không bao giờ được tỏ vẻ chán nản hay cao giọng gắt gỏng, dù người bệnh có chậm chạp hay vụng về trong việc học hỏi đến đâu. Nên có nhiều người thay phiên để tránh tình trạng mệt mỏi này, để bệnh nhân không mất lòng tin và bỏ cuộc. Nên nhớ rằng, người bệnh không phải “ngu” hay “chậm chạp”, mà là “bệnh”. Khi người bệnh chưa có thể nói và nghe, người chăm sóc muốn nói gì phải kê sát gần nói nhỏ nhẹ vừa đủ nghe, chớ không nói nhanh và hét lớn. Người bệnh chỉ nghe và nói chưa được, không phải điếc và câm.
Trên đường dài phục hồi, tôi có dịp quan sát những cảm giác của mình. Thật thú vị khi cảm thấy được những sự vui, buồn, mừng, giận từ bên ngoài xảy đến trong tôi, rồi đi. Có khi cái “giận” đến làm cho cả cơ thể run lên, rồi thoát ra ngoài. Càng thú vị hơn khi tôi thấy mình làm chủ được những tình cảm đó, bằng cách dang tay đón nhận hay cấm cửa không cho vào, hoặc không cho trở lại. Nhất là những tình cảm như giận dữ, bất mãn, khinh ghét, thù hận. Cho nên khi trung tâm ngôn ngữ của tôi được tái lập, tôi thường dùng nó để ra lệnh cho não bộ trái là tôi không muốn những tình cảm tiêu cực này xuất hiện hay tái xuất trong mạch thần kinh của tôi, vì chúng nó tiêu hao rất nhiều năng lượng một cách vô bổ. Chúng ta thông thường không để ý đến điều này, nên hay “đổ thừa” cho người khác, hoặc hoàn cảnh đã làm cho ta giận, buồn, khổ. Trong 8 năm dài phục hồi, tôi đã quan sát và thấy rằng mình làm chủ được những tình cảm tiêu cực và không để chúng xảy ra. Tất cả chỉ là những dữ kiện không tốt chạy quanh trong mạch thần kinh mà ta có thể loại trừ khỏi não bộ dễ dàng và không để xuất hiện trở lại. Thí dụ, người nào xuyên tạc điều gì về bạn, khiến bạn giận run lên. Nếu bạn không làm chủ được mình thì bạn sẽ ôm mãi cơn giận, đến có thể mất ăn mất ngủ. Bởi vì cái “giận” vẫn còn lưu thông trong mạch thần kinh ở não trái. Bạn phải ra lệnh “bỏ”, rồi nghĩ đến việc gì khác vui hơn, thì cơn giận sẽ biến mất. Khi bạn nghĩ đến chuyện vui, bạn thấy vui. Còn nghĩ đến chuyện buồn, sẽ buồn.
Vậy tại sao không nghĩ đến chuyện vui mà thôi, để cuộc đời tươi đẹp hơn lên? Cái gì cũng phải tập luyện mới có kết quả. Như người vô giáo dục thì hay ăn nói càn rỡ, còn người có giáo dục mở miệng ra đã thấy đứng đắn. Bởi vì người có giáo dục được huấn luyện chỉ ăn nói đứng đắn mà thôi. Cho nên, không ai có quyền làm chủ cuộc đời mình, trừ chính mình và bộ óc. Nên không thể trách người khác. Không ngoại cảnh nào có thể làm mình mất đi sự an tĩnh của tâm hồn, nếu mình biết tự làm chủ. Như một thuyền trưởng lái tàu giữa biển khơi, tôi không thể hoàn toàn làm chủ vận mệnh trước phong ba, bão tố; nhưng chắc chắn tôi có toàn quyền định đoạt về cách tiếp nhận những biến cố đó mà vui hay buồn, xem như tháchh đố hay thất bại !

Trang thơ



Tự khúc
          
Mùa xuân có gì?
– Có hoa vàng ngoài kia mấy độ
Có trong ta một chiều cả gió.
Kỷ niệm có gì?
– Có sợi tơ mỏng mảnh lên trời
Có mắt em nhòa lệ thảnh thơi
Tình yêu có gì?
– Có hai người ở bên cửa sổ
Một người đứng yên một người đổi chỗ
Thời gian có gì?
– Bên này bức tường đôi mắt nhăn nheo
Bên kia bức tường dây trường xuân leo…

Má đã cô đơn biết chừng nào!

Lý Thành Dũng


Tôi bần thần nhìn hàng khói nghi ngút đang lan tỏa, vẫn là mùi hương trầm quen thuộc xưa nay má hay thắp trên bàn thờ. Nhưng lần này thì khác, tôi đang thắp nén nhang tiễn đưa má. Tiếng gõ mõ tụng kinh đều đều của vị sư vừa quen vừa lạ.
Hồi còn sống má thường tụng kinh mỗi tối. Trước kia má không mấy tin, nhưng từ sau khi bị tai biến mạch máu não, má như đã về gần thế giới bên kia hơn. Má ngồi hàng giờ trước bàn thờ, lau chùi mấy tấm ảnh cũ, sắp xếp lại bình hoa... Tôi đâu có ngờ má soạn chỗ cho mình sớm thế. Cảnh thì còn đây mà người đâu chẳng thấy!
Trên bàn, vỉ Alaxan đang uống dở còn vài viên, chai dầu nóng chưa đậy nắp lại chắc là má vừa mới xức. Ngón tay trỏ của má vẫn còn băng chưa lành. Mới sáng má còn tươi cười mở cổng cho tôi đi làm, chiều về má đã chết trên giường, thanh thản như đang nằm ngủ, cái tivi trắng đen vẫn phát chương trình cải lương mà má thích. Nhà có tivi màu nhưng má chẳng bao giờ dùng đến, chỉ xài mỗi cái tivi cũ này thôi.
Khi đi làm có đồng ra đồng vô, không để thua kém những gia đình hàng xóm, tôi cũng mua một cái tivi màu mới cáu. Nghĩ tiếc cái tivi cũ còn tốt, má mang để dưới bếp. Lúc đầu má cũng thích cái tivi mới, nhất là khi xem Tây du ký, cảnh bảy con yêu nhền nhện mang bảy sắc áo khác nhau xanh đỏ tím vàng rực rỡ. Má cùng xem với con cháu, khen cảnh này hay, cảnh kia đẹp.
Nhưng không như ngày xưa chương trình truyền hình chỉ có một kênh duy nhất, tối tối cả nhà quây quần cùng nhau xem. Nay tôi thì thích đá banh mà thằng cu Tí cũng không chịu thua, lúc nào cũng giành coi phim hoạt hình. Đi thì thôi, cứ về đến nhà là cha con lại cãi nhau. Những lúc như thế tôi thường quát bảo con đi học để tôi coi thời sự khiến thằng nhỏ cứ thút thít khóc. Thế là má lại vỗ về cháu nội, bảo xuống bếp coi tivi đen trắng với má.
Có hôm thằng cu Tí nghịch, giấu cái remote khiến tôi cáu đánh cho một trận. Má vừa can con trai, vừa dỗ cháu nội. Tôi không thích má chiều cháu quá, sợ hư. Nhưng tôi cũng chẳng bao giờ la con khi nó yêu sách này nọ với má.
Cũng chỉ là những chuyện cỏn con như thế, tôi không biết được một ngày 24 giờ má tôi làm gì, sống ra sao? Tôi cũng không bao giờ nghe má than van về những căn bệnh của người già luôn hành hạ má. Nhìn những viên thuốc uống dở còn lại trên bàn, tôi ứa nước mắt. Không biết má tôi đã khám bệnh ở đâu, ai đưa đi hay là má xem quảng cáo rồi tự mua thuốc uống?
Trước đây tôi cũng không để ý rằng càng ngày má tôi càng trở nên lỗi thời trong chính căn nhà của mình. Má không dám đụng vào bếp gas vì sợ nổ. Má cũng rất ớn dàn máy hát với bao nhiêu là dây điện nút xanh, nút đỏ. Chỉ có mỗi cái tivi cũ là chịu phép má, khi mất hình, má vỗ mạnh vào nó là hình lại có ngay mà chẳng sợ hư hao gì. Càng nhìn cái tivi cũ, hình đã nhòe, tiếng không còn rõ, tôi càng thấy thương má.
Nhà có bao nhiêu đồ đạc tiện nghi hiện đại nhưng má chỉ xài toàn đồ cũ. Vậy mà bao nhiêu lần tôi cau có bảo má mở nhỏ tivi để khỏi ảnh hưởng đến chương trình của tôi. Những hôm tôi đi làm về muộn, má cặm cụi cả ngày bên bếp dầu cũ để cả nhà vẫn có cơm canh nóng sốt, vậy mà tôi chẳng đụng đũa đến, bảo ăn ở cơ quan rồi.
Giờ tôi mới nhận ra má tôi cô đơn biết chừng nào trong những năm qua dù đang sống bên con cháu.

LÝ THÀNH DŨNG

Sáu giai đoạn của cuộc đời



Có những lúc con người hay lí sự hay nói cách khác là hay cãi cọ đối với những chuyện không đáng. Tuy nhiên, một khi con người già đi và sắp kết thúc một giai đoạn của sự tồn tại thì con người lại thấy cái gì cũng hợp lí, cái gì cũng có nguyên do của nó… Theo Khổng Tử, cuộc đời của mỗi người được chia làm 6 giai đoạn như sau:
• Giai đoạn 1: “Thập hữu ngũ nhi chí vu học” – nghĩa là 15 tuổi thì để hết tâm trí vào việc học; nói cách khác, thiếu thời cần tập trung vào việc tu dưỡng, xác định chí hướng và tích lũy kiến thức.
• Giai đoạn 2: “Tam thập nhi lập” – 30 tuổi lập thân, lập nghiệp, lập gia đình– đã trụ vững, có nghề nghiệp, việc làm, có khả năng nuôi sống bản thân và gia đình, đã xác định vị trí của mình trong xã hội.
• Giai đoạn 3: “Tứ thập nhi bất hoặc” – 40 tuổi không còn mê hoặc, đến tuổi này thì đã chín chắn, lịch duyệt; có kiến thức và kinh nghiệm phong phú, nên đối với những việc diễn ra trong xã hội có chính kiến rõ ràng, kiên định, không còn nghi ngờ (bất hoặc).
• Giai đoạn 4: “Ngũ thập nhi tri thiên mệnh” – 50 tuổi thì biết rõ sứ mệnh của mình; đã nắm vững quy luật tự nhiên và xã hội, biết được xu thế của thời cuộc, nên công việc thường thuận lợi và dễ dàng đi đến thành công.
• Giai đoạn 5: “Lục thập nhi nhĩ thuận” – 60 tuổi thì không còn chướng tai gai mắt; do lý giải đúng căn nguyên của mọi việc diễn ra xung quanh và thấu hiểu nhân tình thế thái, nên dễ thông cảm và có thái độ khoan dung hơn – nhìn sự việc không còn thấy chướng tai gai mắt (thuận nhĩ); không như tuổi trẻ hiểu biết còn nông cạn, nên trước nhiều sự việc thường cảm thấy khó chịu, bực mình.
• Giai đoạn 6: “Thất thập nhi tòng tâm sử dục, bất du cửu” – Tới tuổi 70, cổ lai hy thì đạt đến cảnh giới đắc đạo tâm tính và đạo đã hợp nhất, mọi thứ đã thành bản năng nên nghĩ gì hay làm gì cũng đều hợp đạo, chẳng vi phạm phép tắc (bất du cửu = không vượt ra ngoài quy tắc).

Wednesday, February 1, 2017

Giấc ngủ



Khi nói đến việc chăm sóc sức khỏe, phần lớn người ta chỉ nói đến vấn đề ăn uống, ít ai đề cập đến giấc ngủ. Có người nói ngủ chiếm một phần ba cuộc đời, thật quá uổng phí! Người xưa còn nói, đời người quá ngắn nên phải đốt đèn để vui chơi suốt đêm. Cổ thi Trung Hoa có bài "Sinh niên bất mãn bách" (Đời người chẳng được trăm năm), trong đó có câu: "Trú đoản khổ dạ trường, hà bất bỉnh chúc du?" (Ngày ngắn khổ nổi đêm dài, sao không cầm đuốc đi chơi?) Thomas A. Edison cố gắng phát minh bóng đèn điện, tạo ánh sáng cho con người làm việc tới khuya để giảm bớt những “giấc ngủ không sinh lợi”. Immanuel Kant, triết gia Đức, coi ngủ như một nhu cầu xấu, ngủ mơ là phí thì giờ và muốn đêm càng ngắn càng tốt. Nhưng ngày nay khoa học chứng minh giấc ngủ rất cần thiết cho sức khỏe con người không kém gì thực phẩm, nước uống, không khí.
Ngủ là một hoạt động tự nhiên theo định kỳ mà những cảm giác và vận động tạm thời bị ngưng lại một thời gian, với đặc điểm dễ nhận thấy là hoạt động não không thấy rõ và sự bất động gần như hầu hết các cơ bắp, ngoài việc tiếp tục duy trì các chức năng cơ thể căn bản như hô hấp, tuần hoàn.
Giấc ngủ ngon làm sức khoẻ bền bỉ, giảm căng thẳng, xoa dịu tâm trí, là một liều thuốc hiệu nghiệm để chữa sự mỏi mệt thể chất và tâm hồn.
Các nhà nghiên cứu quan sát tất cả các động vật có vú, tất cả các loài chim, và nhiều loài bò sát, động vật lưỡng cư, và đa số các động vật khác như một số loài cá, kiến, ruồi quả, thì thấy giấc ngủ thường xuyên rất cần thiết cho sự sống của chúng.

Diễn tiến giấc ngủ

Ở người trưởng thành trung bình mỗi ngày cần ngủ từ 7 đến 8 giờ. Một giấc ngủ bình thường, một đêm gồm khoảng 4 đến 5 chu kỳ. Mỗi chu kỳ từ 90 đến 120 phút, gồm 2 giai đoạn NREM + REM kế tiếp nhau:
* Giấc ngủ thật (NREM = Non Rapid Eye Movement = "Không-Cử-Động-Mắt-Nhanh"). Trong giấc ngủ NREM, hệ thống miễn dịch tăng trưởng, xương và cơ bắp được bồi đắp, các mô được tái sinh, hệ thần kinh hồi phục. Giấc ngủ nầy được chia làm 4 giai đoạn, mỗi giai đoạn kéo dài từ 5 đến 15 phút.
- Giai đoạn I: ru giấc ngủ, ngủ thiếp, hay ngủ chập chờn. Giai đoạn này rất ngắn, chỉ kéo dài vài phút rồi chuyển sang giai đoạn II, được xem như giai đoạn chuyển tiếp từ trạng thái thức sang trạng thái ngủ. Những kích thích ở giai đoạn này sẽ làm thức giấc ngay lập tức.
- Giai đoạn II: ngủ nhẹ hay ngủ nông, không còn cảm giác đang thức. Ở giai đoạn này tỉnh dậy khó khăn.
- Giai đoạn III: ngủ sâu. Ở giai đoạn này, các dấu hiện sinh tồn đều giảm như: nhiệt độ, nhịp tim, nhịp thở, huyết áp. Hệ thống cơ xương khớp cũng giãn ra, trùng xuống.
- Giai đoạn IV: ngủ rất sâu. Các dấu hiệu sinh tổn đạt mức độ thấp nhất. Tỉnh dậy lúc này rất khó.
Trẻ em giai đoạn III và IV chiếm khoảng 50% nhưng ở người lớn và nhất là người lớn tuổi chỉ chiếm 15% đến 25% .
* Giấc ngủ mơ (REM = Rapid Eye Movement = "Cử-Động-Mắt-Nhanh") hay còn gọi là giấc ngủ REM bởi vì đôi mắt người ngủ di chuyển một cách nhanh chóng theo các hướng khác nhau. Điều nầy không xảy ra trong giấc ngủ NREM. Sau giấc ngủ NREM qua 4 giai đoạn, người ngủ vẫn còn trong giấc ngủ sâu nhưng nhiệt độ, nhịp tim, nhịp thở, huyết áp đều tăng, ngược lại nhu động dạ dày và ruột thì giảm . Sở dĩ có tên giấc ngủ mơ là do ở giai đoạn này điện não đồ xuất hiện sóng alpha giống như giai đoạn thức, nhưng người ngủ thì vẫn ngủ rất sâu và những giấc mơ thường xuất hiện. Kế tiếp giai đoạn REM, người ngủ sẽ thức dậy trong khoảng thời gian rất ngắn một vài phút rồi lại tiếp tục chu kỳ 2,3,4... cho tới sáng.
Ở những chu kỳ đầu bao giờ cũng ngủ sâu hơn, những chu kỳ sau càng về sáng giấc ngủ mơ càng dài hơn. Thông thường giai đoạn đầu tiên của REM (chu kỳ 1) kéo dài 10 phút. Mỗi giai đoạn REM sau kéo dài hơn, và một trong những REM cuối cùng (trong chu kỳ 4 hoặc 5 - lúc gần sáng) có thể kéo dài tới một giờ.
Về nhu cầu ngủ, khả năng ngủ, bao nhiêu cho đủ, cho vừa, để hiệu năng sinh hoạt ngày hôm sau không trở ngại. Đồng hồ sinh học của mỗi người khác nhau do đó nhu cầu ngủ của mỗi người cũng không giống nhau. Nhu cầu ngủ cũng thay đổi theo độ tuổi. Càng lớn tuổi thì nhu cầu này càng giảm dần.Ta vẫn quen nghĩ rằng người lớn tuổi ít ngủ, thực sự thời gian cần để ngủ vẫn không thay đổi nhưng tính chất giấc ngủ thay đổi. Họ buồn ngủ sớm hơn, giấc ngủ nông hơn, dễ bị đánh thức bởi các thay đổi bên ngoài do đó thưòng dậy sớm, vì vậy họ thiếu ngủ và buồn ngủ ban ngày.
Ở người lớn tuổi, giấc ngủ của họ được mô tả như sau:
+ Kéo dài thời gian giai đoạn I và II.
+ Giảm thời gian giai đoạn III và IV.
+ Sự ổn định của giấc ngủ mơ.
+ Tăng số lần thức giấc trong đêm.
+ Ngủ gà ngủ gật ban ngày.
Ai cũng đều biết trẻ sơ sinh ngủ nhiều, đây là thời gian tồn trữ năng lượng để bồi dưỡng cơ thể. Trẻ sơ sinh ngủ trên 18 giờ một ngày nếu sanh non tháng lại ngủ nhiều hơn. 6 tháng, ngủ 14 tiếng. 16 tuổi ngủ 10 tiếng. Khi vào đại học cho tới trưởng thành thì ngủ 7-8 tiếng, thời gian này giảm dần. Giấc ngủ của thiếu niên bắt đầu chậm và kéo dài đến sáng, do đó ta thuờng thấy học sinh hay thức khuya và khó dậy sớm.
Như vậy, một người sống tới 75 tuổi, đã dành 25 năm để ngủ.
Và trong 6 đến 8 giờ ngủ đó, chúng ta cần một khoảng thời gian thư giãn toàn thân bằng cách đạt đến trạng thái REM. Chúng ta có thể lên giường từ 10 giờ tối nhưng trạng thái REM không nhất thiết phải đến ngay. Nó sẽ tự tìm đến trong giấc ngủ một cách hoàn toàn tự nhiên; chúng ta không kiểm soát được nhưng một khi đạt tới trạng thái REM, cơ thể chúng ta ở trạng thái nghỉ ngơi tốt nhất. Không giống như những hoạt động khác, giấc ngủ ban đêm không thể "ngủ bù" bằng những giấc ngủ vụn vặt buổi trưa, buổi chiều, bởi cơ thể sẽ không đạt đến trạng thái REM, là trạng thái nghỉ ngơi tốt nhất. Những người làm đêm phải ngủ ngày, nhưng giấc ngủ ban ngày không thể thay thế được một giấc ngủ ngon về đêm.

Giấc ngủ ngon

Ca dao Việt Nam có câu:
“Ăn được ngủ được là tiên
Không ăn không ngủ, mất tiền thêm lo”.
Một giấc ngủ ngon mới giải toả được những căng thẳng xẩy ra trong ngày, làm tâm hồn thư thái hơn. Giấc ngủ ngon cần phải đáp ứng những yếu tố sau:
• Đủ số lượng: thời gian ngủ từ 7 đến 8 giờ theo sinh lý bình thường.
• Bảo đảm chất lượng: có nghĩa ngủ không ác mộg và sau khi ngủ dậy cơ thể cảm thấy tỉnh táo, sảng khoái, khỏe mạnh, không còn cảm giác mệt mỏi, buồn ngủ, năng suất làm việc cao. Trong khi ngủ cơ thể tiết ra những hormone quan trọng giúp quá trình chuyển hóa, tích lũy năng lượng cần thiết cho hoạt động trong ngày và quá trình tăng trưởng cơ thể, giúp não bộ hệ thống hóa thông tin, thiết lập và củng cố khả năng ghi nhớ dài hạn. Điều này rất cần thiết để cơ thể phát triển và thích nghi với môi trường sống.
Một giấc ngủ ngon cần phải tuân thủ một số điều kiện sau:
+ Ngủ và thức dậy đúng giờ.
+ Dậy ngay khi thức giấc, không nên nằm nướng.
+ Đi ngủ ngay khi có những dấu hiệu buồn ngủ như ngáp, mắt lim dim. Không cố gắng cưỡng lại cơn buồn ngủ.
+ Vào buổi tối, không đọc những truyện quá lôi cuốn, hấp dẫn. Không xem tivi trên giường ngủ. Tránh những cãi cọ hay tranh luận căng thẳng, tạm quên đi những lo toan, bận tâm trong ngày.
+ Không dùng những chất kích thích như trà, thuốc lá, cà phê, sô cô la, vitamin C vào buổi tối.
+ Không ăn tối trễ quá, không ăn no quá, nên ăn nhẹ nhàng.
+ Không chơi những môn thể thao nặng vào buổi tối. Trước khi ngủ có thể tắm nước ấm, mát xa nhẹ.
+ Phòng ngủ nên thoáng mát, yên tĩnh, giường gối êm ái, ánh sáng dịu nhẹ.
+ Tránh lạm dụng thuốc ngủ, chỉ dùng khi cần thiết và tham khảo ý kiến thầy thuốc.
+ Tình cảm vợ chồng hòa thuận là liều thuốc tự nhiên vô cùng quý giá giúp ngủ ngon.
Trong khi ngủ, chúng ta không biết gì hết. Tuy không “biết”, nhưng óc vẫn hoạt động. Người Pháp nói “Tìm sự cố vấn trong giấc ngủ”. Khi ta có vấn đề cần suy nghĩ, còn phân vân chưa giải quyết được, sau giấc ngủ có khi chúng ta nhìn thấy vấn đề rõ ràng hơn. Một số ý kiến sáng tạo, hoặc những suy nghĩ tìm tòi có thể xuất hiện sau giấc ngủ.

Thiếu ngủ

Thiếu ngủ sẽ dẫn đến một số biểu hiện sau:
+ Mệt mỏi, uể oải.
+ Bồn chồn, dễ nóng giận.
+ Không thể tập trung vào công việc.
+ Khó đưa ra những quyết định sáng suốt.
+ Dễ bị ám thị, dễ bị ảnh hưởng bởi người khác.
+ Mất khả năng thiết lập kế hoạch cho tương lai.
+ Có thể có những ảo giác (nhìn thấy những hình ảnh không có thực).
Những dấu hiệu này nặng hay nhẹ tùy thuộc vào tình trạng mất ngủ nhiều hay ít. Thuốc ngủ không cho chúng ta giấc ngủ mà não cần. Rối loạn giấc ngủ là những biểu hiện rất thường gặp. Xác định rối loạn giấc ngủ và nguyên nhân của các rối loạn này có một vai trò quan trọng để đưa đến một hướng trị liệu phù hợp.
Bảng phân loại các rối loạn giấc ngủ quốc tế dựa vào thể thức, thời gian và nguyên nhân của các rối loạn giấc ngủ. Có 2 nhóm chính:
• Nhóm 1: gồm những rối loạn liên quan đến chất lượng, số lượng và những thời điểm khác nhau của giấc ngủ.
• Nhóm 2: gồm những hiện tượng bất thường xảy ra trong giấc ngủ.

§ Những rối loạn giấc ngủ thường gặp

1/ Mất ngủ

Giấc ngủ không đủ thời gian hoặc chất lượng, khi ngủ dậy cảm thấy sức khỏe về thể chất và tinh thần không được hồi phục, còn buồn ngủ tiếp. Tùy từng trường hợp có thể gây ra tình trạng khó ru vào giấc ngủ, thức giấc nhiều lần trong đêm, thức dậy sớm hoặc có thể có cảm giác thiếu ngủ hoàn toàn. Nguyên nhân của rối loạn này rất đa dạng: tỷ lệ mất ngủ chiếm khoảng 10-15% trong dân số, trong đó mất ngủ tạm thời thường gặp nhất, tỷ lệ mất ngủ này tăng dần theo tuổi, tỷ lệ nữ gấp đôi nam.

* Mất ngủ tạm thời. Xuất hiện vài đêm hoặc trong thời gian ngắn một vài tuần, ở những người bình thường. Mất ngủ tạm thời là rối loạn hay gặp nhất. Những biến cố trong cuộc sống (như tang tóc, khó khăn kinh tế, gia đình, nghề nghiệp…), sinh hoạt không điều độ (ngủ trưa quá nhiều, lạm dụng các chất kích thích, ngủ thức thất thường, chơi thể thao buổi tối, công việc quá nhiều), các bệnh cơ thể, môi trường (tiếng ồn, độ cao, phòng ngủ không thích hợp…) đều làm mất ngủ.
* Mất ngủ do bệnh tâm thần. Từ 30% đến 60% trường hợp mất ngủ có nguyên nhân từ các rối loạn tâm thần như rối loạn trầm cảm, lo âu, mất ngủ hoàn toàn vì trạng thái hoang tưởng, những trường hợp rối loạn nhân cách, nghiện ngập thường dẫn đến tình trạng mất ngủ mạn tính.
* Nhiều bệnh có thể đưa đến tình trạng mất ngủ như các chứng đau thấp khớp, bệnh đường tiêu hóa, bệnh tim mạch...
* Lạm dụng những chất kích thích, lạm dụng rượu, lạm dụng một số thuốc...
* Mất ngủ mạn tính (chronic insomnia) không thấy có nguyên nhân cụ thể về bệnh tâm thần hay các bệnh khác. Biểu hiện duy nhất là mất ngủ. Người ta phân biệt ra những loại sau: mất ngủ vô căn (Idiopathic insomnia) tiến triển từ tuổi ấu thơ, mất ngủ tâm sinh lý (psychophysiological insomnia) sợ ngủ vì có những ác mộng hoặc ảo giác.

2/ Rối loạn sự tỉnh táo và ngủ nhiều (sleep and wakefulness disorders).

* Những rối loạn này liên quan đến số lượng và chất lượng của trạng thái tỉnh táo trong ngày, biểu hiện qua việc ngủ nhiều, buồn ngủ, ngủ gà ngủ gật trong ngày. Trái ngược với mất ngủ, những rối loạn tỉnh táo này thường không nhận biết và không được quan tâm đến.
* Hội chứng ngưng thở trong giấc ngủ (sleep apnea) thường gặp ở những người nam giới trên 50 tuổi, dư trọng lượng.
* Ngủ nhiều do thiếu ngủ có các biểu hiện khó thức dậy, ngủ gật trong ngày, giảm hiệu suất làm việc, khó tập trung chú ý, bồn chồn dễ cáu giận, mệt mỏi.
* Chứng ngủ rũ (narcolepsy, hypnolepsy) là rối loạn giấc ngủ mãn tính biểu hiện qua sự buồn ngủ ban ngày quá nhiều và đột ngột suy nhược cơ bắp do thiếu hụt protein kích thích não gọi là orexin, thường xuất hiện ở độ tuổi từ 15 và 30.
* Ngủ nhiều vô căn (hypersomnia) là ngủ quá nhiều mà không có một nguyên nhân rõ ràng. Nó khác với chứng ngủ rũ, bởi vì chứng bệnh nầy đột nhiên đi vào giấc ngủ hoặc mất kiểm soát cơ bắp do những cảm xúc mạnh (cataplexy).
* Rối loạn chu kỳ chuyển động chân tay và hội chứng chân không yên (PLMD: periodic limb movement disorder and RLS: restless legs symdrome). PLMD là sự chuyển động tự động chân tay, thường lặp đi lặp lại hàng trăm lần trong đêm. Đừng nhầm lẫn với RLS là tình trạng đôi chân cảm thấy rất khó chịu khi ngồi hay nằm xuống, xảy ra khi thức cũng như khi ngủ.

3/ Những rối loạn nhịp sinh học (circadian rhythm sleep disorder).

* Hội chứng thức sớm (early morning awakenings). Người bệnh thức dậy vào khoảng 2-3 giờ sáng, dẫn đến nhu cầu ngủ vào buổi chiều. Rối loạn này thường thấy ở người lớn tuổi.
* Hội chứng nhịp ngày đêm dài: Hiện tượng nhịp ngày đêm dài hơn 24 giờ với sự khác biệt về thời gian ngủ khoảng 1 giờ mỗi ngày dẫn đến hiện tượng giai đoạn ru giấc ngủ ngày càng trễ. Ta có thể gặp những trường hợp mất ngủ cả đêm và trạng thái ngủ gà ban ngày. Rối loạn này chủ yếu gặp ở người mù ngoại biên, bệnh tâm thần phân liệt.
* Hội chứng ngủ trễ (delayed sleep-phase disorder ): Do ngủ rất trễ, nếu phải dậy sớm để đi làm hậu quả là người bệnh vẫn còn ngủ gà vào buổi sáng.
* Thay đổi múi giờ: Hiện tượng mất ngủ xảy ra khi chúng ta di chuyển sang những múi giờ khác nhau. Triệu chứng đầu tiên là mất ngủ giai đoạn ru ngủ khi chúng ta di chuyển về phía đông và thức dậy sớm khi chúng ta di chuyển vế phía tây, kết hợp với những biểu hiện mệt mỏi, ngủ gà, đôi khi có sự rối loạn khí sắc. Rối loạn này kéo dài trong khoảng 1 tuần.

4/ Những hiện tượng bất thường xảy ra trong giấc ngủ

• Mộng du (sleep walking): Trong y học gọi là trạng thái miên hành, người bệnh tự nhiên thức dậy và đi lại trong tình trạng đang còn ngủ. Mộng du thường gặp ở trẻ nhỏ, bệnh giảm dần theo tuổi tác.
• Bóng đè (sleep paralysis): Khi bị bóng đè, một phần não bộ vẫn hoạt động bình thường (trạng thái tỉnh) nhưng hệ thần kinh vận động không hoạt động khiến cho cơ thể không thể cử động được. Người bị bóng đè thường cố gắng thức dậy bằng cách cử động chân tay hay nói nhưng không thể được mặc dù não đã phát đi tín hiệu điều khiển thần kinh vận động. Nhiều người mô tả rằng cơ thể họ như có vật gì rất nặng đè lên ngực mà họ không thể nào đẩy ra được, hoặc có ảo giác nhìn thấy những hình ảnh đáng sợ, khó thở, nghe thấy tiếng bước chân hay giọng nói, hoặc thấy mình bị đẩy xuống giường, hoặc bị xô ngã. Bóng đè có thể diễn ra trong vài giây nhưng cũng có thể lâu hơn.
• Vọp bẻ ban đêm (night leg cramps): Một số người thường là phụ nữ có thể bị vọp bẻ ban đêm. Bắp thịt chân gồng cứng co thắt và đau, thường chỉ xảy ra ở một bên, khi chân này khi chân kia. Bệnh vọp bẻ chân ban đêm chỉ làm cản trở giấc ngủ, không nguy hiểm.
• Ngủ ngáy (snoring): Là sự phát ra âm thanh qua đường thở khi ngủ. Nguyên nhân là do không khí được đưa đến sau họng và phải đi qua một đoạn hẹp, khiến nó tăng vận tốc, tạo nên một áp lực âm, kéo mặt hầu và lưỡi gà mềm về phía sau. Sự vận động khi thở ra, hít vào sẽ tạo ra rung động của lưỡi gà và màn hầu, từ đó gây nên tiếng ngáy. Vùng hẹp đó có thể ở vùng mũi, miệng hoặc là họng. Những âm thanh này thường gây khó chịu cho những người xung quanh, tuy nhiên người ngủ ngáy lại thường không nghe biết việc đó. Một trong những nguyên nhân gây ngủ ngáy là chứng béo phì, các lớp mỡ dày cộm ở cuống họng đã làm thay đổi cấu trúc họng, gây cản trở không khí lưu thông. Nam giới và phụ nữ tuổi mãn kinh thường hay ngáy nhất.
• Những cơn hoảng loạn ban đêm (Sleep terror disorder): Thường gặp ở trẻ em, cũng hiếm gặp ở người trưởng thành.
• Các rồi loạn khi chuyển từ thức sang ngủ: giật mình, nói trong lúc ngủ.
• Các rối loạn trong giấc ngủ mơ: ác mộng, liệt khi ngủ, rối loạn hành vi trong giấc mơ, chứng nghiến răng...

Thiền bổ sung giấc ngủ

Đời sống hằng ngày càng bận rộn, càng náo động, thì càng bất an, và con người càng mất ngủ nhiều hơn. Đó cũng là lý do tại sao ngày nay người ta hướng đến Thiền. Thiền cũng có thể thay cho… ngủ, dù thiền không phải là ngủ, trái lại thiền là thực sự tỉnh giác. Thế nhưng, về mặt sinh học, thiền tiêu hao năng lượng rất ít, ít hơn cả giấc ngủ, nhờ đó tiết kiệm được năng lượng . Khi tâm được an, năng lượng tiêu hao giảm hơn một nửa. Não bộ chỉ chiếm 2% thể trọng nhưng tiêu thụ oxy đến ¼ nhu cầu của cơ thể.
Những nghiên cứu của các nhà khoa học cho rằng ngủ ngon là một giấc ngủ không mộng mị, não bộ sẽ hoàn toàn được nghỉ ngơi, thần kinh được yên tĩnh, nên tinh thần người ngủ sẽ sảng khoái… Như vậy, thiền định tương đồng một giấc ngủ ngon, có khả năng làm cho tâm sinh lý của con người được quân bình. Giá trị thiết thực này của thiền định thật rất quý. Nếu có thể thay tám tiếng ngủ mỗi ngày bằng một giờ thiền định thì quả thật rất tiết kiệm.
Cho nên cách dỗ giấc ngủ tốt nhất là làm cho cơ thể rơi vào trạng thái “buồn ngủ”. Đó là buông xả toàn bộ thân xác, như rả nó ra, xì nó xuống, làm cho nó xẹp lép, hết căng. Đặt tay chân trong tư thế tự nhiên không gò ép, dễ chịu. Khi “thân xác” đã xẹp lép, lửng lơ như vậy rồi thì tập trung chú ý tới hơi thở . Không cần phải cố gắng điều khiển hơi thở, ráng sức điều hoà hơi thở chi cả. Bởi còn ráng, còn cố gắng thì còn căng, không gọi là buông xả được! Cứ để hơi thở tự nhiên, nó sẽ biết lúc nào thở vào, lúc nào thở ra, lúc nào nhiều, lúc nào ít. Nó có cơ chế điều chỉnh tự động tùy nồng độ dưỡng khí (O2) và thán khí (CO2) tác động lên trung khu hô hấp ở hành tủy. Và giấc ngủ sẽ đến với chúng một cách nhẹ nhàng.
Cái khó lúc mới tập, chúng ta thường bị tràn ngập bởi những ý tưởng này nọ, những tính toán, những giận hờn, những âu lo… làm ta cuống cuồng lên thì làm sao mà ngủ được!
Nếu muốn không bị kích thích khi thở thì chúng ta phải quan sát hơi thở. Hơi thở sẵn có ở trong ta, ngay trước mũi mình, cũng không cần nghĩ ngợi gì cả. Hít một hơi thiệt dài, thiệt mạnh, thiệt sâu. Chỉ một lúc là đầu váng mắt hoa, phải tự động thở ra ngay, không muốn không được. Thở ra một hơi thiệt dài, thiệt mạnh, thiệt lâu . Chỉ một lúc là nó tự động thở vào, không muốn không được! Nói cách khác, hơi thở tự ý, tự động. Do đó, khi chúng ta quan sát hơi thở vào, thở ra đó chúng ta sẽ quên đi tất cả những chuyện khác. Mà đã quên thì hết căng, hết căng thì xìu xìu, thì buồn ngủ vậy!
Trong giấc ngủ chúng ta đạt tới mục tiêu mà chúng ta đạt tới trong thiền. Điều kiện chung cho thiền và ngủ là như nhau. Trước nhất là thân thể phải được buông xả. Nếu chúng ta đang bị chứng mất ngủ, điều đầu tiên bác sĩ sẽ dạy cho người mất ngủ phải biết buông xả, đừng để bất kỳ căng thẳng nào tồn tại trong thân thể. Hãy để ý đến cách thức con chó hay con mèo ngủ. Chúng ngủ cứ dường như là chúng không ngủ vậy. Một đứa trẻ sơ sinh khi ngủ không có căng thẳng gì cả - tay chân nó vẫn để mềm nhũn ra. Quan sát thanh niên và người già ngủ sẽ thấy khác đi, mọi thứ căng thẳng trong họ.
Cùng điều kiện này áp dụng cho giấc ngủ. Người chạy bộ thở nhanh hơn, mạnh hơn, tuần hoàn máu tăng lên. Trong khi ngủ, tuần hoàn máu phải chậm dần lại và vì thế hơi thở phải nhẹ nhàng, chậm rãi. Các điều kiện khi hành thiền cũng vậy: thở nhẹ nhàng, buông xả thân thể, buông xả ý nghĩ. Do vậy, ngủ cũng như thiền, các điều kiện ban đầu giống nhau, khác biệt là ở điều kiện cuối cùng. Khi vào thiền, là đi vào cái trống rỗng như giấc ngủ say nhưng có ý thức chứ không phải rơi vào vô thức như ngủ.


Dù sao đi nữa con người cũng tận hưởng giấc ngủ. Giấc ngủ thay đổi theo suốt chiều dài cuộc đời của mỗi người. Em bé có thể ngủ li bì suốt ngày, suốt đêm, trong khi đó người già chỉ chợp mắt, chập chờn vài khoảnh khắc. Không những thời gian ngủ mà thói quen khi ngủ, khi thức cũng thay đổi theo tuổi tác. Giấc ngủ không phải là sự ngưng nghỉ hoạt động hoàn toàn mà là một dạng đặc biệt của hoạt động cơ thể, giúp cơ thể phục hồi năng lượng đã tiêu hao khi thức. Như vậy, giấc ngủ thật sự rất quan trọng đối với sức khỏe con người. Để được ngủ yên, không trăn trở, chúng ta nên làm một giấc ngủ vùi. Ngủ không mộng mị, thức chẳng âu lo, ăn không cầu kỳ, thở thật thâm sâu, sẽ hòa điệu, vận hành trôi chảy vào cuộc sống, là điều mà mọi người hướng tới và là một phản ánh cho thấy cuộc sống đã đạt phần nào “thân tâm an lạc”.

Lê Tấn Tài

MẸ và CUỘC HÀNH TRÌNH ĐỜI BẠN

khuyết danh


·        Khi bạn bước chân vào thế giới này, mẹ đã ôm bạn trong tay. Bạn cảm ơn mẹ bằng cách khóc như một nữ thần báo tử.
·        Khi bạn 1 tuổi, mẹ đút từng miếng ăn và chăm sóc cho bạn. Bạn cảm ơn mẹ bằng cách khóc suốt đêm dài.
·        Khi bạn 2 tuổi, mẹ tập cho bạn đi. Bạn cảm ơn mẹ bằng cách bỏ chạy đi khi mẹ gọi.
·        Khi bạn 3 tuổi, mẹ làm cho bạn tất cả những bữa ăn với tất cả tình thương yêu.  Bạn cảm ơn mẹ bằng cách quăng đĩa xuống sàn.
·        Khi bạn 4 tuổi, mẹ cho bạn một vài cây bút màu. Bạn cảm ơn mẹ bằng cách dùng chúng tô lên bàn ăn.
·        Khi bạn 5 tuổi, mẹ diện cho bạn vào những ngày lễ. Bạn cảm ơn mẹ bằng cách ngã ùm vào đống bùn gần nhất.
·        Khi bạn 6 tuổi, mẹ dắt tay bạn đến trường. Bạn cảm ơn mẹ bằng cách la lên: "Con không đi".
·        Khi bạn 7 tuổi, mẹ mua cho bạn một quả bóng. Bạn cảm ơn mẹ bằng cách ném nó qua cửa sổ nhà bên cạnh.
·        Khi bạn 8 tuổi, mẹ cho bạn một cây kem. Bạn cảm ơn mẹ bằng cách để nó chảy cả vào lòng bàn tay.
·        Khi bạn 9 tuổi, mẹ cho bạn đi học piano. Bạn cảm ơn mẹ bằng cách chẳng bao giờ ngó ngàng đến việc thực hành.
·        Khi bạn 10 tuổi, mẹ làm tài xế cho bạn suốt ngày, từ đi chơi bóng đá đến tập thể dục, rồi hết tiệc sinh nhật này đến tiệc sinh nhật khác. Bạn cảm ơn mẹ bằng cách khi đến nơi nhảy ra khỏi xe và chẳng hề quay lại.
·        Khi bạn 11 tuổi, mẹ dẫn bạn cùng bạn bè của bạn đi xi-nê. Bạn cảm ơn mẹ bằng cách xin ngồi ở hàng ghế khác.
·        Khi bạn 12 tuổi, mẹ răn bạn không được xem một vài chương trình nào đó trên Ti-vi. Bạn cảm ơn mẹ bằng cách đợi cho đến khi mẹ rời khỏi nhà, liền bật lên xem.
·        Khi bạn 13 tuổi, mẹ đề nghị bạn cắt tóc. Bạn cảm ơn mẹ bằng cách bảo rằng mẹ không biết thế nào là sành điệu.
·        Khi bạn 14 tuổi, mẹ dẫn bạn đi trại hè xa nhà 1 tháng. Bạn cảm ơn mẹ bằng cách quên chẳng viết lấy một lá thư nào.
·        Khi bạn 15 tuổi, mẹ đi chợ về và chờ đợi sự chào đón của bạn. Bạn cảm ơn mẹ bằng cách khóa cửa phòng ngủ.
·        Khi bạn 16 tuổi, mẹ dạy bạn lái chiếc xe của mẹ. Bạn cảm ơn mẹ bằng cách lấy nó chạy bất cứ khi nào có thể.
·        Khi bạn 17 tuổi, mẹ đang đợi một cuộc gọi quan trọng. Bạn cảm ơn mẹ bằng cách tán dóc trên điện thoại đến nửa đêm.
·        Khi bạn 18 tuổi, mẹ đã khóc trong ngày lễ tốt nghiệp của bạn. Bạn cảm ơn mẹ bằng cách đi chơi với bạn bè đến chiều tối.
·        Khi bạn 19 tuổi, mẹ trả tiền học phí cho bạn, lái xe đưa bạn đến trường đại học, mang túi xách cho bạn. Bạn cảm ơn mẹ bằng cách tạm biệt mẹ bên ngoài dãy phòng tập thể để khỏi lúng túng trước mặt bạn bè.
·        Khi bạn 20 tuổi, mẹ hỏi bạn đã gặp gỡ ai chưa. Bạn cảm ơn mẹ bằng cách đáp:"Đó không phải là chuyện của mẹ".
·        Khi bạn 22, mẹ ôm bạn trong ngày lễ tốt nghiệp. Bạn cảm ơn mẹ bằng cách hỏi xem mẹ có thể tặng bạn một chuyến du lịch Châu Âu không.
·        Khi bạn 23, mẹ sắm sửa tất cả đồ đạc cho căn hộ đầu tiên của bạn. Bạn cảm ơn mẹ bằng cách nói rằng những người bạn của mẹ thật xấu xí.
·        Khi bạn 24, mẹ gặp vị hôn phu của bạn và hỏi về những kế hoạch tương lai của bạn. Bạn cảm ơn mẹ bằng cách giận dữ và càu nhàu: "Con xin mẹ đấy".
·        Khi bạn 25, mẹ lo lễ cưới cho bạn, mẹ khóc và bảo rằng mẹ yêu bạn biết bao. Bạn cảm ơn mẹ bằng cách dọn đến một nơi xa tít.
·        Khi bạn 30, mẹ gọi và khuyên bảo về việc chăm sóc trẻ con. Bạn cảm ơn mẹ bằng cách bảo rằng: "Mọi việc giờ đã khác xưa rồi".
·        Khi bạn 40, mẹ gọi để nhắc bạn nhớ sinh nhật của một người thân nào đó. Bạn cảm ơn mẹ bằng câu trả lời: "Con thật sự bận mẹ à!"
·        Khi bạn 50, mẹ ngã bệnh và cần bạn chăm sóc. Bạn cảm ơn mẹ bằng cách tìm đọc sách về đề tài: "Cha mẹ trở thành gánh nặng cho con cái như thế nào"
       Và rồi, một ngày kia, mẹ lặng lẽ ra đi. Tất cả những điều bạn chưa bao giờ làm sụp đỗ tan tành. "Hãy ru con, ru con qua suốt đêm dài. Bàn tay đưa nôi... có thể cai trị cả thế giới"
       Ta hãy dành một giây phút nào đó để báo hiếu và tỏ lòng kính trọng với người ta gọi là “Mẹ”, dù rằng một số người có thể sẽ không nói điều đó thẳng thắn với mẹ mình. Chẳng điều gì có thể thay thế mẹ được. Hãy trân trọng từng giây từng phút, dẫu rằng đôi khi mẹ không phải là người hiểu ta nhất trong những người gần gũi chúng ta, có thể không đồng ý với những suy nghĩ của chúng ta, nhưng người ấy vẫn là mẹ bạn!!!
       Mẹ sẽ luôn ở bên bạn, lắng nghe những phiền muộn, niềm vui cũng như những nỗi thất vọng. Hãy tự hỏi chính mình: "Mình có dành đủ thời gian cho mẹ để lắng nghe những phiền muộn và buồn chán của người nội trợ suốt ngày ở trong bếp không?"
       Yêu thương và kính trọng mẹ, dù rằng bạn có thể có cách nhìn khác với mẹ. Khi mẹ ra đi, những kỷ niệm yêu mến của quá khứ và cả nuối tiếc sẽ ở lại. Đừng xem những điều gần gũi nhất với trái tim bạn là hiển nhiên. Hãy yêu mẹ hơn bản thân mình, vì cuộc đời bạn sẽ vô nghĩa nếu không có Người.
       Mẹ cho ta tình yêu vĩnh cữu… Tình mẹ như biển cả và lòng mẹ như dòng sông ... mẹ ... tình mẹ vô vàng rộng lớn hơn vũ trụ tạo hóa!

Dấu hiệu cảnh báo nhồi máu cơ tim

nhoi_mau_co_tim-contentNhồi máu cơ tim là một bệnh lý vô cùng nguy hiểm, mỗi năm cướp đi hơn 20 triệu người trên thế giới. Ai cũng biết mức độ tử vong nhanh chóng của nó một khi đã phát bệnh nhưng không phải ai cũng đủ “sáng suốt” để nhận ra những dấu hiệu sớm của nhồi máu cơ tim có thể xuất hiện.
Tăng huyết áp, béo phì, mỡ máu, đái tháo đường, stress, hút thuốc lá, uống rượu bia… là nguyên nhân chính gây ra các bệnh về tim mạch, nhất là bệnh tim mạch vành (còn gọi là bệnh thiếu máu tim cục bộ) nguyên nhân dẫn đến nhồi máu cơ tim – là biến chứng gây đột tử với các triệu chứng điển hình sau:

1. Đau thắt ngực

Đau thắt ngực là triệu chứng điển hình nhất của nhồi máu cơ tim, quả tim có nhiệm vụ đưa máu nuôi dưỡng đi khắp cơ thể, muốn thực hiện được nhiệm vụ đó tim cần một hệ mạch máu gọi là hệ mạch vành. Nhồi máu cơ tim là tình trạng mạch vành bị tắc, do hai nguyên nhân là mảng xơ vữa và cục máu đông. Khi đó máu không được lưu thông sẽ dẫn đến tình trạng thiếu máu cơ tim làm hoại tử vùng cơ tim gây đột tử, mà biểu hiện rõ nhất là cơn đau thắt ngực.
Tuy nhiên, tùy vào cơ địa mỗi người mà tần suất cũng như mức độ đau ngực khác nhau, có người thường xuyên đau nhưng cũng có người rất ít đau, đôi khi chỉ làm cảm giác đau nhẹ, khó thở… 25% bệnh nhân bị thiếu máu cơ tim không có triệu chứng đau ngực. Theo GS Vũ Đình Hải có tới 20% trường hợp nhồi máu cơ tim không có cơn đau thắt ngực nhất là ở bệnh nhân cao tuổi, tiền sử đái tháo đường, tăng huyết áp… Tuy nhiên, tất cả những người có nguy cơ này đều có thể lên cơn nhồi máu cơ tim bất kỳ lúc nào.

2. Khó thở, nặng nhọc

Đây là triệu chứng thường thấy, cảnh báo sớm nguy cơ nhồi máu cơ tim. Thông thường khi máu không được lưu thông sẽ khiến trái tim phải hoạt động nhiều hơn. Vì vậy, người bệnh thường có cảm giác khó thở, tức ngực, nặng nhọc nhất là những khi gắng sức hay hoạt động mạnh như chơi thể thao leo cầu thang, đi bộ, khuân vác… Triệu chứng sẽ càng nặng hơn nếu kéo dài.

3. Cảm giác mệt mỏi, đau đầu

Nếu đột nhiên bạn thấy cơ thể mình có những biểu hiện giống như một cơn cảm cúm, nhưng dùng thuốc cảm cúm cũng không khỏi bạn có thể nghĩ đến tim mạch. Mệt mỏi, đau đầu cũng là một biểu hiện sớm của nhồi máu cơ tim, tim không được cung cấp đầy đủ máu sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của cơ thể, gây cho bạn cảm giác suy nhược, mất tinh thần, luôn cảm thấy mệt mỏi, hụt hơi dù ngay cả khi bạn không vận động nặng. Khiến bạn mất ăn, kém ngủ ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống.

4. Thường xuyên hoa mắt, chóng mặt

Đây đều là nguyên nhân của thiếu máu tim cục bộ, khi máu không được cung cấp đầy đủ khiến tim không thể thực hiện được chức năng của mình. Thông thường cảm giác hoa mắt, chóng mặt rất thường xuyên gặp phải, nhất là những người hay vận động, đứng lên ngồi xuống, cảm giác có thể choáng váng. Thiếu máu người bệnh luôn cảm thấy mệt mỏi.

5. Tê, lạnh chân tay

Theo các chuyên gia tim mạch thì tê lạnh chân tay là dấu hiệu của tắc nghẽn mạch máu, thiếu máu, nhiều trường hợp ra mồ hôi. Nhất là với những người chuẩn bị lên cơn nhồi máu cơ tim, cảm giác này rất rõ rệt, khiến bệnh nhân không trụ vững và ngã quỵ.
Tuy nhiên, trên thực tế không phải bệnh nhân nhồi máu cơ tim nào cũng có những dấu hiệu báo trước, rất nhiều bệnh nhân nhồi máu cơ tim nhưng không có triệu chứng rõ ràng nào cả, nó có thể đến bất ngờ khiến bạn “trở tay không kịp”. Vì vậy, cần nghiêm túc theo dõi những dấu hiệu trên cơ thể của mình để có phương pháp phòng ngừa.
Ngay khi phát hiện ra một trong các dấu hiệu trên , bạn cần nghĩ ngay đến những nguy cơ có thể mắc phải, chủ quan luôn khiến bệnh nặng thêm và có thể đe dọa đến tính mạng. Trang bị những kiến thức cần thiết và phòng ngừa từ xa luôn là cách bảo vệ trái tim bạn một cách tốt nhất